Sáng 19/6, tại Hà Nội, Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường do Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tạ Đình Thi làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) nhằm nắm bắt tình hình thực hiện pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; ghi nhận những khó khăn, vướng mắc, kiến nghị từ thực tiễn, đồng thời lấy ý kiến phục vụ công tác thẩm tra dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).
Toàn cảnh buổi làm việc
Tham dự buổi làm việc, về phía Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường có các Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Thị Mai Phương, Đỗ Đức Hồng Hà cùng các Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban; đại diện lãnh đạo một số Ủy ban của Quốc hội và các bộ, ngành liên quan. Về phía VIMC có Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Cảnh Tĩnh; các Phó Tổng giám đốc Nguyễn Ngọc Ánh, Phạm Anh Tuấn cùng lãnh đạo các ban chuyên môn, nghiệp vụ và đại diện lãnh đạo một số doanh nghiệp thành viên như CMB, VIMC Shipping, VIMC Lines.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi phát biểu tại buổi làm việc
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ nhiệm Tạ Đình Thi nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật lần này nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển bền vững kinh tế biển, giải quyết xung đột không gian, kiểm soát ô nhiễm và tạo hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế biển xanh. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, chuyển từ quản lý đơn ngành sang quản trị tổng hợp, hiện đại và dựa trên chuyển đổi số.
Với vai trò doanh nghiệp nòng cốt trong lĩnh vực hàng hải, logistics và khai thác cảng biển, VIMC được đánh giá là nguồn cung cấp thông tin thực tiễn quan trọng phục vụ quá trình hoàn thiện dự án Luật.
Phó Tổng giám đốc VIMC Nguyễn Ngọc Ánh báo cáo tại buổi làm việc
Báo cáo tại buổi làm việc, Phó Tổng giám đốc Nguyễn Ngọc Ánh cho biết, thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, VIMC xác định phát triển hạ tầng hàng hải đồng bộ, hiện đại là nhiệm vụ chiến lược. Trong giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến 2035, Tổng công ty tập trung vào ba trụ cột: phát triển cảng biển nước sâu và cảng trung chuyển quốc tế; phát triển đội tàu vận tải biển hiện đại, ưu tiên tàu container xanh; và phát triển hệ sinh thái logistics sau cảng.
Từ thực tiễn hoạt động, VIMC kiến nghị bổ sung quy định về phát triển đội tàu biển quốc gia, dịch vụ hàng hải và hệ thống logistics biển nhằm nâng cao năng lực vận tải, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và tăng sức cạnh tranh quốc gia.
Chủ tịch Hội đồng quản trị VIMC Nguyễn Cảnh Tĩnh đóng góp ý kiến tại buổi làm việc
Đóng góp về thể chế, Chủ tịch HĐQT Nguyễn Cảnh Tĩnh đề xuất tiếp tục hoàn thiện mô hình “chính quyền cảng”, tăng cường kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài tại các khu vực trọng yếu và có cơ chế điều tiết cạnh tranh phù hợp trong lĩnh vực cảng biển.
Liên quan đến chuyển đổi xanh, VIMC kiến nghị áp dụng chính sách ưu đãi thuế, phí đối với đội tàu sử dụng nhiên liệu sạch, đồng thời hỗ trợ đầu tư hệ thống điện bờ (OPS). Tổng công ty cũng đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu vận tải biển quốc gia, kết nối giữa tàu biển, cảng biển, doanh nghiệp logistics và cơ quan quản lý.
Một trong những nội dung trọng tâm được VIMC phản ánh là cơ chế quản lý hoạt động nạo vét và nhận chìm vật chất nạo vét. Theo đó, doanh nghiệp hiện phải thực hiện đồng thời nhiều thủ tục như đánh giá tác động môi trường, xin giấy phép nhận chìm và giao khu vực biển tại các cơ quan khác nhau, dẫn đến chồng chéo và kéo dài thời gian triển khai dự án.
Để khắc phục, VIMC đề nghị xác định và cập nhật sẵn các khu vực nhận chìm trong Quy hoạch không gian biển quốc gia và các quy hoạch liên quan, qua đó giúp doanh nghiệp chủ động lựa chọn vị trí, rút ngắn thời gian chuẩn bị và bảo đảm tính ổn định cho hoạt động duy tu luồng hàng hải.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thị Mai Phương phát biểu tại buổi làm việc
Trao đổi tại buổi làm việc, Đoàn công tác tập trung góp ý vào các nhóm chính sách lớn của dự thảo Luật, bao gồm quản lý không gian biển, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển, kiểm soát ô nhiễm và các cơ chế ưu đãi phát triển kinh tế biển. Đoàn công tác đề nghị VIMC tiếp tục làm rõ tính khả thi của các quy định liên quan đến giao, cho thuê khu vực biển, cơ chế “một cửa” trong thủ tục đầu tư, cũng như chi phí tuân thủ các công ước quốc tế về môi trường hàng hải.
Ông Nguyễn Thanh Tùng – Phó Cục trưởng Cục Biển và hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phát biểu tại buổi làm việc
Ông Nguyễn Thanh Tùng – Phó Cục trưởng Cục Biển và hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đánh giá cao VIMC trong thời gian qua đã có nhiều hoạt động trong việc vừa phát triển hàng hải, vừa kiểm soát ô nhiễm môi trường và tạo lập những hành lang pháp lý đột phá để phát triển kinh tế biển xanh.
Khẳng định tầm quan trọng của việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), ông Nguyễn Thanh Tùng cho biết, trên cơ sở những ý kiến đóng góp tại cuộc làm việc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp thu tối đa các ý kiến xung quanh những nội dung chính mà các thành viên Đoàn công tác và lãnh đạo VIMC, các Bộ ngành đóng góp để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện dự án Luật.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu kết luận tại buổi làm việc
Phát biểu kết luận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đỗ Đức Hồng Hà đánh giá VIMC đang chuyển dịch mạnh từ mô hình khai thác cảng sang hệ sinh thái logistics tích hợp, song vẫn đối mặt với nhiều rào cản pháp lý cần tháo gỡ. Đoàn công tác ghi nhận các kiến nghị về quy hoạch khu vực nhận chìm, chính sách phát triển đội tàu xanh, cải cách thủ tục hành chính và xây dựng hệ thống dữ liệu biển thống nhất.
Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo, cán bộ Tổng công ty Hàng hải Việt Nam
Trên cơ sở nội dung làm việc, Đoàn công tác đề nghị Tổng công ty tiếp tục hoàn thiện báo cáo và gửi lại cho Ủy ban để tổng hợp, nghiên cứu, phục vụ quá trình thẩm tra dự án Luật; đồng thời đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật là Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động nghiên cứu, tiếp thu, bảo đảm thiết kế các điều khoản khung có tính nguyên tắc tại Luật và giao Chính phủ quy định chi tiết để đảm bảo tính linh hoạt trước sự biến động của thực tiễn hàng hải.
















